Dân tộc thiểu số – Thammysacdep.com https://thammysacdep.com Trang thông tin thẩm mỹ & làm đẹp Wed, 24 Sep 2025 14:01:57 +0000 vi hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.7.4 https://cloud.linh.pro/thammysacdep/2025/08/thammysacdep.svg Dân tộc thiểu số – Thammysacdep.com https://thammysacdep.com 32 32 Mở lớp học xóa mù chữ giúp phụ nữ dân tộc thiểu số thay đổi cuộc sống https://thammysacdep.com/mo-lop-hoc-xoa-mu-chu-giup-phu-nu-dan-toc-thieu-so-thay-doi-cuoc-song/ Wed, 24 Sep 2025 14:01:55 +0000 https://thammysacdep.com/mo-lop-hoc-xoa-mu-chu-giup-phu-nu-dan-toc-thieu-so-thay-doi-cuoc-song/

Ở các xã vùng cao của tỉnh Hòa Bình, như Bao La, Tân Pheo, Đà Bắc, những lớp học đặc biệt được tổ chức sau mỗi mùa gặt. Vài chục người phụ nữ dân tộc Mường, Dao, Thái cùng ngồi bên nhau, chăm chú nghe giảng về từng nét chữ đầu tiên. Đây là những lớp “giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ”, một phần trong nỗ lực xóa mù chữ và nâng cao năng lực học tập cộng đồng do Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Hòa Bình phối hợp tổ chức.

Từ năm 2020 đến nay, đã có 6 lớp như vậy được mở, với 125 học viên, 100% là nữ và là người dân tộc thiểu số. Họ đến lớp không vì điểm số, không vì bằng cấp mà vì một điều giản dị: Biết đọc tên mình, biết viết đơn xin vay vốn, hiểu những dòng chữ in trên bao thuốc trừ sâu hay đơn khám bệnh.

Bà Hà Thị Nhung, người dân tộc Thái ở xã Bao La, đã bắt đầu một hành trình mới – học chữ ở tuổi ngũ tuần. Trước kia, mỗi lần đi trạm y tế hay nhận hỗ trợ, bà đều phải nhờ người khác điền giúp giấy tờ. Có khi, cán bộ bảo ký tên, bà chỉ biết cười trừ, đưa ngón tay ra lăn dấu. “Tôi xấu hổ lắm. Đến tên mình cũng không viết nổi”, bà Nhung chia sẻ.

Cơ hội đến khi Trung tâm học tập cộng đồng xã Bao La mở lớp học sau biết chữ vào buổi tối, tranh thủ khi người dân đã thu hoạch xong mùa vụ. Lớp học nhỏ, chỉ có một chiếc bàn gỗ dài và những cuốn vở đã ngả màu theo tay học viên. Nhưng với bà Nhung, đó là thế giới khác – nơi bà bắt đầu nhận diện lại chính mình qua từng con chữ.

Tính đến nay, các xã khu vực Hòa Bình cũ đạt tỷ lệ nữ biết chữ là 99,81%, trong đó nữ dân tộc thiểu số và miền núi đạt 99,64% – vượt xa mục tiêu 93% được đặt ra trong Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030. Đây không chỉ là một thành tích trong lĩnh vực giáo dục mà còn là kết quả của quá trình kiên trì xóa mù chữ, giáo dục tiếp tục sau biết chữ và xây dựng mô hình học tập cộng đồng bền vững.

Tuy nhiên, biết chữ không đơn thuần là đích đến mà là điểm khởi đầu cho một hành trình dài hơi – hành trình trao quyền, xây dựng năng lực tự chủ cho người phụ nữ. “Khi người phụ nữ biết đọc, biết viết, họ có thể tiếp cận thông tin, hiểu quyền lợi, chủ động trong kinh tế gia đình và chăm sóc con cái. Quan trọng hơn, họ trở thành người truyền cảm hứng học tập trong bản làng, nơi mà việc cầm bút, đi học với phụ nữ từng là điều xa lạ, thậm chí bị cho là ‘không cần thiết'” – Ông Trần Văn An – Trưởng Phòng Giáo dục thường xuyên, Sở Giáo dục và Đào tạo chia sẻ.

Dù kết quả đạt được rất đáng ghi nhận, nhưng thực tế ở các xã vùng cao vẫn đặt ra không ít thách thức. Ở một số địa bàn đặc biệt khó khăn, việc duy trì kết quả sau xóa mù chữ chưa thật sự ổn định. Nhiều phụ nữ lớn tuổi quanh năm bám nương, ít có điều kiện tiếp cận thông tin vẫn đang đối mặt nguy cơ tái mù.

Những bước đi căn cơ đang dần được triển khai để đảm bảo “biết chữ” không chỉ là thành tích mà phải là nền móng cho sự phát triển. Từ năm 2025, Trường Cao đẳng Sư phạm Hòa Bình được giao nhiệm vụ đưa các nội dung về giới, bình đẳng giới và sức khỏe sinh sản vào chương trình đào tạo giáo viên. Cùng với đó, các trung tâm học tập cộng đồng ở cơ sở cũng đang được mở rộng vai trò. Từ chỗ chỉ dạy chữ sang hướng dẫn kỹ năng sản xuất, sử dụng công nghệ số, khởi nghiệp tại chỗ… Đây là bước đi cho thấy chương trình xoá mù, nâng cao năng lực cộng đồng không chỉ truyền đạt con chữ, mà còn giúp thay đổi tư duy, cách nghĩ, cách làm của đồng bào dân tộc thiểu số.

https://www.vietnambiz.vn/

Từ một chương trình xóa mù chữ ban đầu, Phú Thọ đang chuyển mình từng bước để làm cho “học tập suốt đời” trở thành hiện thực ở cả những bản làng xa nhất. Và ở đó, mỗi người phụ nữ biết chữ, dù chỉ một câu, một dòng, cũng đang viết nên phần tương lai tươi sáng hơn của chính mình.

]]>
ANTV phanh phui hoạt động của các thế lực thù địch, tổ chức lưu vong ở vùng cao https://thammysacdep.com/antv-phanh-phui-hoat-dong-cua-cac-the-luc-thu-dich-to-chuc-luu-vong-o-vung-cao/ Thu, 04 Sep 2025 17:10:21 +0000 https://thammysacdep.com/antv-phanh-phui-hoat-dong-cua-cac-the-luc-thu-dich-to-chuc-luu-vong-o-vung-cao/

Gần đây, các thế lực thù địch và tổ chức lưu vong Mông đã lợi dụng vấn đề dân tộc và tôn giáo để tăng cường các hoạt động kích động và tuyên truyền ý tưởng về tự trị ly khai trong số các dân tộc thiểu số. Đặc biệt, tại các khu vực cao nguyên, vùng sâu vùng xa và các khu vực xa xôi thuộc các tỉnh biên giới phía Bắc, hoạt động tuyên truyền này đang ngày càng trở nên phổ biến và tinh vi.

Theo Đài ANTV, một kênh truyền thông được tài trợ toàn phần hoặc một phần bởi Chính phủ Việt Nam, trong chương trình ‘Quan điểm sự thật’ với tiêu đề ‘Sự hoang tưởng của người lưu vong về một quốc gia trên cao nguyên đá’, vấn đề này đã được đề cập một cách rõ ràng. Chương trình đã chỉ ra rằng các thế lực thù địch và tổ chức lưu vong Mông đang cố gắng tạo ra một làn sóng dư luận nhằm chia tách và làm mất đoàn kết các dân tộc thiểu số tại Việt Nam.

Cụ thể, các hoạt động tuyên truyền này thường tập trung vào việc phóng đại và xuyên tạc các vấn đề dân tộc và tôn giáo, tạo ra sự bất ổn và mất lòng tin trong cộng đồng. Những người lưu vong Mông và các thế lực thù địch đang cố gắng lợi dụng các vấn đề này để phục vụ mục tiêu chính trị của họ, bao gồm việc thành lập một quốc gia riêng biệt trên cao nguyên đá.

Trước những thông tin này, cơ quan chức năng và các cấp chính quyền địa phương đang tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật để nâng cao nhận thức của người dân về các vấn đề liên quan. Đồng thời, các cơ quan chức năng cũng đang tích cực ngăn chặn và xử lý nghiêm các hoạt động tuyên truyền sai lệch, nhằm bảo vệ sự ổn định và an ninh trong khu vực.

Xem thêm thông tin tại: https://antv.gov.vn

]]>
Chị Út Tịch – Biểu tượng bất tử của người phụ nữ Nam bộ https://thammysacdep.com/chi-ut-tich-bieu-tuong-bat-tu-cua-nguoi-phu-nu-nam-bo/ Tue, 02 Sep 2025 20:40:43 +0000 https://thammysacdep.com/chi-ut-tich-bieu-tuong-bat-tu-cua-nguoi-phu-nu-nam-bo/

Chị Út Tịch – Biểu tượng bất tử của người phụ nữ vùng dân tộc thiểu số Nam bộ

Chị Út Tịch, tên thật là Nguyễn Thị Út, sinh năm 1931 tại Tam Ngãi, Vĩnh Long, đã trở thành một biểu tượng bất tử của người phụ nữ vùng dân tộc thiểu số ở Nam bộ trong cuộc chiến tranh giữ nước và dựng nước. Cuộc đời của chị là một bản anh hùng ca về lòng yêu nước, sự kiên trung và hy sinh cao cả.

Chị Út Tịch mồ côi mẹ từ nhỏ, từng bán chè, gánh nước, mót lúa để sinh nhai. Lấy chồng sớm, có 6 người con, chị là điển hình của mẫu người phụ nữ ‘không thích nói nhiều, đã nói là làm, làm bằng được, làm tới chết’. Chồng chị, ông Lâm Văn Tịch, là người dân tộc Khmer, cũng là cán bộ cách mạng hoạt động bí mật. Sau khi ông Tịch bị địch sát hại, chị quyết định bồng con lên rừng, xin vào đội du kích.

Với hành trang đơn sơ, chị Út Tịch đã chiến đấu qua muôn vàn gian khổ, không rời hàng ngũ dù có người khuyên chị nên về chăm sóc các con nhỏ. Chị không phải là người phụ nữ đầu tiên ra chiến trận, cũng không phải người duy nhất hy sinh, nhưng trong chị có đủ đầy cả tình mẹ, tình vợ, tình dân, tình đồng đội và tình yêu Tổ quốc.

Khi chị ngã xuống ở trận đánh năm 1968, con gái út của chị mới lên 3. Không có lễ tang rầm rộ, không kèn trống, không huy chương, nhưng hàng nghìn phụ nữ miền Tây đã khóc chị.

Chị Út Tịch không chỉ là một biểu tượng cách mạng mà còn là một hình bóng máu thịt trong đời sống của bà con miền Tây. Tượng đài chị Út Tịch được đúc bằng đồng, đặt tại Tam Ngãi, Vĩnh Long, là minh chứng cho sự kính trọng và biết ơn của người dân.

Ngày nay, vẫn có nhiều người phụ nữ tiếp nối bước chân chị Út Tịch, không mang súng ra trận nhưng không lùi bước trước những thử thách mới của thời bình. Họ là những người phụ nữ dân tộc thiểu số, từng bước vươn lên từ vùng căn cứ cách mạng, như chị Thạch Thị Thu Hà, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo Vĩnh Long, hay chị Nguyễn Thị Nhiền, Chủ tịch UBND xã Phong Thạnh.

Họ đã chứng minh rằng phụ nữ vùng căn cứ không phải là điểm yếu mà là điểm tựa để giữ Đảng, giữ nước và giữ niềm tin nhân dân. Trong thời đại hiện nay, với những thách thức mới, cần có chiến lược hỗ trợ những ‘Út Tịch thời bình’ để họ có thể phát triển và vươn lên.

Cụ thể, cần thiết lập Chương trình hành động quốc gia ‘Phụ nữ vùng căn cứ phát triển bền vững giai đoạn 2025-2035’, thành lập Quỹ ‘Ngọn lửa Út Tịch’ hỗ trợ phụ nữ vượt khó ở vùng đặc biệt khó khăn, bổ sung vào giáo trình và truyền thông đại chúng các hình tượng phụ nữ cách mạng tiêu biểu, và tổ chức hội thảo cấp quốc gia về ‘Phụ nữ vùng căn cứ – Từ lịch sử đến chính sách’.

]]>
Đồng Nai: Trường trung cấp VHNT tuyển sinh vượt chỉ tiêu, mở lớp đào tạo âm nhạc truyền thống cho thanh thiếu niên dân tộc thiểu số https://thammysacdep.com/dong-nai-truong-trung-cap-vhnt-tuyen-sinh-vuot-chi-tieu-mo-lop-dao-tao-am-nhac-truyen-thong-cho-thanh-thieu-nien-dan-toc-thieu-so/ Thu, 28 Aug 2025 15:05:57 +0000 https://thammysacdep.com/dong-nai-truong-trung-cap-vhnt-tuyen-sinh-vuot-chi-tieu-mo-lop-dao-tao-am-nhac-truyen-thong-cho-thanh-thieu-nien-dan-toc-thieu-so/

Trường Trung cấp Văn hóa nghệ thuật Đồng Nai vừa đạt được một mốc quan trọng trong mùa tuyển sinh năng khiếu nghệ thuật năm 2025. Với số lượng học sinh đăng ký theo học vượt xa chỉ tiêu ban đầu, trường đã thể hiện một tín hiệu tích cực về xu hướng theo đuổi nghệ thuật chuyên nghiệp của thế hệ trẻ, đặc biệt là con em của đồng bào các dân tộc thiểu số.

Trong kế hoạch tuyển sinh năm học 2025-2026, trường đã đề ra chỉ tiêu tuyển sinh 80 học sinh cho các chuyên ngành âm nhạc truyền thống, âm nhạc phương Tây, thanh nhạc và múa. Trong đợt 1, nhà trường đã tuyển được 77 học sinh, và trong đợt 2, có 140 em đăng ký theo học. Thông tin này vừa được ThS Phùng Ngọc Long, Hiệu trưởng Trường Trung cấp Văn hóa nghệ thuật Đồng Nai, chia sẻ.

Đáng chú ý, số lượng học sinh đăng ký vào chuyên ngành âm nhạc truyền thống đã tăng cao. Không chỉ vậy, các chuyên ngành múa và thanh nhạc cũng ghi nhận số lượng học sinh đăng ký nhiều hơn so với các năm trước. Điều này cho thấy rằng định hướng theo đuổi nghệ thuật đang dần nhận được sự quan tâm từ học sinh và gia đình. Hiệu trưởng Phùng Ngọc Long bày tỏ sự vui mừng trước sự hưởng ứng tích cực của học sinh và phụ huynh.

Trong thời gian tới, nhà trường dự kiến sẽ triển khai các hoạt động thực tế, khảo sát địa bàn các xã và tuyển sinh một số học sinh vùng đồng bào các dân tộc và vùng biên giới. Đây là bước chuẩn bị quan trọng cho kế hoạch tuyển sinh năng khiếu nghệ thuật tại 95 phường, xã trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong năm học tới.

Đồng Nai là địa phương có đông đồng bào dân tộc sinh sống, và Trường Trung cấp Văn hóa nghệ thuật Đồng Nai mong muốn thông qua hoạt động tuyển sinh và đào tạo, sẽ phát hiện và bồi dưỡng những năng khiếu nghệ thuật tiềm ẩn, đặc biệt là các chuyên ngành âm nhạc truyền thống. Qua đó, tạo điều kiện cho các em học sinh tiếp cận môi trường đào tạo nghệ thuật chuyên nghiệp, bài bản, và có cơ hội phát triển theo con đường nghệ thuật trong tương lai.

Hơn nữa, thông qua hoạt động này, trường cũng kỳ vọng sẽ góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa nghệ thuật truyền thống của các dân tộc, cũng như tạo ra những cơ hội học tập và phát triển cho học sinh đến từ các vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

]]>
Nâng cao thu nhập cho phụ nữ dân tộc thiểu số nhờ phát triển ngành măng https://thammysacdep.com/nang-cao-thu-nhap-cho-phu-nu-dan-toc-thieu-so-nho-phat-trien-nganh-mang/ Mon, 04 Aug 2025 07:33:56 +0000 https://thammysacdep.com/nang-cao-thu-nhap-cho-phu-nu-dan-toc-thieu-so-nho-phat-trien-nganh-mang/

Ở tỉnh Lào Cai, nhiều phụ nữ dân tộc thiểu số đã biến tiềm năng núi rừng thành hàng hóa, áp dụng khoa học kỹ thuật vào xây dựng thương hiệu sản phẩm, góp phần phát triển kinh tế xanh, bền vững và tạo việc làm cho lao động tại địa phương.

Được tiếp cận với kỹ thuật canh tác tiên tiến, măng của hợp tác xã Nậm Xé có năng suất cao hơn và chất lượng tốt hơn
Được tiếp cận với kỹ thuật canh tác tiên tiến, măng của hợp tác xã Nậm Xé có năng suất cao hơn và chất lượng tốt hơn

Tại các xã Văn Bàn, Chiềng Ken, Minh Lương, Nậm Chày, Nậm Xé, đồng bào dân tộc thiểu số đã gắn bó mật thiết với những rừng măng. Măng không chỉ giúp họ nuôi sống gia đình mà còn gìn giữ một phần văn hóa bản địa. Tuy nhiên, cuộc sống gắn liền với măng cũng đồng nghĩa với sự bấp bênh: sản lượng không ổn định, giá cả bị thao túng bởi thương lái và thiếu cơ hội vươn ra thị trường lớn.

Hợp tác xã Dần Thàng tạo việc làm ổn định cho khoảng 15–20 người dân và thu nhập cho hàng trăm hộ liên kết
Hợp tác xã Dần Thàng tạo việc làm ổn định cho khoảng 15–20 người dân và thu nhập cho hàng trăm hộ liên kết

Chị Triệu Thị Lai, người dân tộc Dao ở xã Nậm Xé, tỉnh Lào Cai, là một minh chứng sinh động cho hành trình thay đổi đó. Suốt nhiều năm, cuộc sống của chị gắn với những nhịp thở nơi rừng măng. Với 3-4 hecta rừng, gia đình chị dựa vào những mùa thu hoạch măng để mang lại phần lớn thu nhập hằng năm.

Người phụ nữ dân tộc Dao gắn bó mật thiết với những rừng măng.
Người phụ nữ dân tộc Dao gắn bó mật thiết với những rừng măng.

Tuy nhiên, mọi thứ bắt đầu thay đổi từ năm 2020, khi chị tham gia Dự án Thúc đẩy Bình đẳng Giới thông qua Nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất Nông nghiệp và Phát triển du lịch. Thông qua dự án, chị được tiếp cận với kỹ thuật canh tác tiên tiến, cải tạo đất, giúp tối ưu hóa việc trồng măng, tăng năng suất và chất lượng măng.

Một công đoạn chế biến măng của bà con Hợp tác xã Măng Dần Thàng
Một công đoạn chế biến măng của bà con Hợp tác xã Măng Dần Thàng

Đặc biệt, chị đã tìm được đầu ra mới ngoài địa phương. Việc bán măng ra các tỉnh lân cận đã giúp giá măng tăng đáng kể, từ 25.000 đồng/kg lên 35.000 đồng/kg măng đã bóc vỏ. Nhờ đó, thu nhập từ măng của gia đình chị tăng từ 20 triệu đồng một vụ lên 30 triệu đồng một vụ cho diện tích trồng 3 hecta.

Từ những rừng măng bạt ngàn, những ngườ phụ nữ vùng cao đang nỗ lực vươn lên, đón nhận những cơ hội phát triển mới.
Từ những rừng măng bạt ngàn, những ngườ phụ nữ vùng cao đang nỗ lực vươn lên, đón nhận những cơ hội phát triển mới.

Năm 2024, chị Triệu Thị Lai thực hiện mục tiêu dài hơi hơn, từ một người nông dân trồng măng, chị quyết tâm gây dựng một mô hình kinh tế tập thể quy mô nhỏ, do chính những người phụ nữ dân tộc thiểu số làm chủ. Nhận được sự đồng hành của chính quyền địa phương, của các cấp Hội phụ nữ, Công ty Tư vấn giải pháp Nông nghiệp và Du lịch CRED, vợ chồng chị Lai cùng 9 hộ gia đình khác trong xã đã thành lập Hợp tác xã Măng Nậm Xé.

Phát triển kinh tế hàng hóa từ rừng núi: Hướng đi bền vững cho phụ nữ dân tộc thiểu số- Ảnh 3.
Phát triển kinh tế hàng hóa từ rừng núi: Hướng đi bền vững cho phụ nữ dân tộc thiểu số- Ảnh 3.

Thông qua hợp tác xã, các hộ dân có cơ hội được đào tạo chuyên sâu về kỹ thuật canh tác, bóc vỏ và thu hoạch măng, đồng thời ký kết hợp đồng lâu dài với một công ty thu mua. Đây là những bước tiến quan trọng giúp các thành viên trong hợp tác xã, từng bước thoát khỏi sự lệ thuộc vào thương lái.

Sự thành công và chuyển biến tích cực trong gia đình chị Lai và các hộ lân cận đã tạo động lực mạnh mẽ cho những người phụ nữ khác ở các xã lân cận, thúc đẩy họ chủ động thành lập các hợp tác xã riêng, nắm bắt cơ hội từ giá trị đang ngày càng tăng lên của ngành măng.

Tại xã Nậm Chày, Hợp tác xã Măng Dần Thàng do chị Hà Thị Thu Hương làm Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc cũng đang tạo dựng cơ hội kinh doanh và việc làm ổn định, bền vững, giúp bà con vùng núi khó khăn vươn lên thoát nghèo.

Hợp tác xã Măng Dần Thàng được thành lập vào tháng 8/2024 với tổng số 15 thành viên, 100% đều là chị em phụ nữ dân tộc thiểu số tại địa phương. Hợp tác xã hiện nay đang liên kết sản xuất măng với 4 tổ hợp tác, bao gồm 161 hộ dân tại xã Dần Thàng.

Năm 2024, Hợp tác xã đã ký kết thỏa thuận hợp tác 10 năm với Công ty Kim Bôi về việc thu mua sản phẩm măng đạt chất lượng do Hợp tác xã sản xuất. Được tham gia các chương trình tập huấn, chuyển giao công nghệ chế biến và bảo quản măng để hình thành chuỗi chế biến khép kín, tiêu thụ ổn định, hợp tác xã Dần Thàng đã đầu tư 400 triệu đồng xây dựng nhà máy 160m², có thể xử lý tới 1.000 tấn măng tươi mỗi năm.

Chặng đường hình thành, phát triển hợp tác xã của chị Triệu Thị Lai, chị Hà Thị Thu Hương cho thấy sự cần thiết của sự liên kết, hợp tác đồng hành giữa nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp và nhà nước, trong quá trình đưa sản phẩm của núi rừng tiếp cận với thị trường trong nước.

Tạo việc làm và mở ra cơ hội phát triển kinh tế cho phụ nữ dân tộc thiểu số là một trong những mục tiêu quan trọng của các dự án phát triển ngành măng. Không chỉ hướng tới lợi nhuận, mô hình hợp tác xã măng còn mang giá trị xã hội lớn.

Từ chỗ lao động đơn lẻ, manh mún, người dân, nhất là phụ nữ dân tộc thiểu số được tổ chức sản xuất bài bản, có thu nhập ổn định, có cơ hội học hỏi và thể hiện vai trò lãnh đạo. Nhờ những thay đổi tích cực trong ngành măng cùng với quyết tâm không ngừng nghỉ của những người phụ nữ như chị Triệu Thị Lai và chị Hà Thị Thu Hương, những ngọn măng trong rừng núi Lào Cai không chỉ đơn thuần là kế sinh nhai mà còn góp phần tạo nên cho sự phát triển bền vững cho cộng đồng.

Tại các vùng miền, người tiêu dùng ngày càng ưa chuộng đặc sản vùng cao với tiêu chuẩn an toàn, truy xuất nguồn gốc và giá trị văn hóa đi kèm. Những sản phẩm măng rừng với vị ngọt thanh, độ giòn đặc trưng và được chế biến theo quy trình sạch của Lào Cai đang dần khẳng định vị thế không chỉ tại các chợ truyền thống, mà có mặt tại các hội chợ, trên quầy kệ của các siêu thị, và trên các nền tảng bán hàng thương mại điện tử.

Tiếp nối hành trình phát triển kinh tế hàng hóa vùng dân tộc thiểu số và miền núi, cần có chính sách dài hạn từ Nhà nước, từ Bộ Công Thương và các Bộ, ngành, cơ quan, tổ chức trong việc hỗ trợ hạ tầng sản xuất, vốn tín dụng ưu đãi, chuyển giao khoa học công nghệ, xúc tiến thương mại và bảo hộ thương hiệu. Quan trọng hơn cả là niềm tin vào năng lực của những người phụ nữ vùng cao, trao cho họ cơ hội để góp sức phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

]]>
Học sinh tình nguyện giúp dân làm thủ tục hành chính ở Đắk Lắk https://thammysacdep.com/hoc-sinh-tinh-nguyen-giup-dan-lam-thu-tuc-hanh-chinh-o-dak-lak/ Mon, 28 Jul 2025 22:11:21 +0000 https://thammysacdep.com/hoc-sinh-tinh-nguyen-giup-dan-lam-thu-tuc-hanh-chinh-o-dak-lak/

Ở tỉnh Đắk Lắk, các học sinh từ trường THPT Lắk và THPT Trần Quang Khải đã tích cực tham gia hỗ trợ người dân vùng sâu, vùng dân tộc thiểu số tiếp cận dịch vụ công trực tuyến. Qua hoạt động này, các em không chỉ giúp đỡ cộng đồng mà còn rút ra những bài học quý giá từ thực tiễn vận hành chính quyền địa phương hai cấp.

Đội hình thanh niên tình nguyện hỗ trợ người dân thực hiện thủ tục hành chính công tại xã Liên Sơn Lắk.
Đội hình thanh niên tình nguyện hỗ trợ người dân thực hiện thủ tục hành chính công tại xã Liên Sơn Lắk.

Khi chính quyền địa phương hai cấp tại xã Liên Sơn, huyện Lắk vận hành, Trung tâm phục vụ hành chính công xã trở nên nhộn nhịp hơn bao giờ hết. Người dân đến giao dịch tăng đột biến, trong đó hơn 50% là đồng bào dân tộc thiểu số, nhiều người chưa thông thạo tiếng Việt, hạn chế trong tiếp cận dịch vụ công trực tuyến. Trước thực tế này, Đảng ủy xã Liên Sơn đã chỉ đạo UBND xã và Trung tâm phục vụ hành chính công phối hợp đảm bảo hoạt động thông suốt. Đồng thời, phân công Bí thư Đoàn xã thành lập đội hình thanh niên tình nguyện với 15 đoàn viên, trong đó có 9 học sinh Trường THPT Lắk.

Các học sinh đã nhiệt tình hỗ trợ người dân, đặc biệt là người lớn tuổi, không thành thạo công nghệ, làm quen với dịch vụ công trực tuyến. Họ hướng dẫn cách đăng ký VNeID, truy cập nền tảng dịch vụ công, thậm chí viết hộ đơn cho người không biết chữ. Qua hoạt động này, các học sinh không chỉ được rèn luyện kỹ năng mềm mà còn “thấm” dần những bài học về đạo đức, công dân và trách nhiệm xã hội. Các em được tiếp xúc với đời sống thực tế, thấu hiểu khó khăn của bà con vùng sâu, dân tộc thiểu số khi tiếp cận dịch vụ công.

Học sinh các trường THPT vùng khó chủ động tham gia hỗ trợ hành chính công là minh chứng sống động cho tác động tích cực của Chương trình GDPT2018 – hướng tới phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực người học, gắn kiến thức với cuộc sống. Tỉnh đoàn Đắk Lắk đã thành lập 102 đội hình thanh niên tình nguyện tham gia hỗ trợ tại 102 xã, phường. Lực lượng đoàn viên thanh niên đang là học sinh THPT đã đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ người dân thực hiện thủ tục hành chính công nhanh, chính xác.

Với tinh thần nhiệt tình và trách nhiệm, các học sinh đã và đang góp phần giúp người dân vùng sâu, vùng dân tộc thiểu số tiếp cận dịch vụ công trực tuyến một cách dễ dàng hơn. Đây là một hoạt động ý nghĩa, không chỉ giúp đỡ cộng đồng mà còn giúp các em học sinh phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực của mình.

]]>
Đoàn Đảng Bảo tàng Sơn La: Bảo tồn và lan tỏa giá trị di sản văn hóa dân tộc https://thammysacdep.com/doan-dang-bao-tang-son-la-bao-ton-va-lan-toa-gia-tri-di-san-van-hoa-dan-toc/ Sun, 27 Jul 2025 20:18:34 +0000 https://thammysacdep.com/doan-dang-bao-tang-son-la-bao-ton-va-lan-toa-gia-tri-di-san-van-hoa-dan-toc/

Chi bộ Bảo tàng và Thư viện tỉnh Sơn La đã và đang nỗ lực không ngừng để giữ gìn và phát huy các giá trị di sản văn hóa dân tộc, đồng thời lan tỏa sâu rộng truyền thống lịch sử và bản sắc văn hóa đến với cộng đồng. Điều này thể hiện tinh thần trách nhiệm và tình yêu với nghề của đội ngũ cán bộ, đảng viên, xuất phát từ tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc coi trọng công tác bảo tồn di sản văn hóa.

Theo tư tưởng của Bác, di sản văn hóa được xem là linh hồn trường tồn của một dân tộc. Từ đó, Chi bộ Bảo tàng và Thư viện tỉnh Sơn La đã triển khai nhiều hoạt động thiết thực, nhằm thực hiện các nội dung đột phá về bảo tồn văn hóa phi vật thể, bảo tồn di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh, quản lý hiện vật, tư liệu. Đồng chí Ngô Thị Hải Yến, Bí thư Chi bộ, Giám đốc Bảo tàng và Thư viện tỉnh cho biết, Chi bộ có 45 đảng viên, thường xuyên tổ chức các cuộc sinh hoạt chuyên đề với nội dung phù hợp với tình hình thực tiễn của cơ quan. Mỗi cán bộ, đảng viên cụ thể hóa và đăng ký 2-3 phần việc làm theo Bác cụ thể sát với nhiệm vụ chuyên môn.

Trong giai đoạn 2016-2024, Chi bộ đã đạt được nhiều kết quả đáng kể. Cụ thể, 15 di sản văn hóa phi vật thể của Sơn La đã được công bố và đưa vào danh mục quốc gia; trong đó, nghệ thuật Xòe Thái được UNESCO ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Ngoài ra, có 10 di tích được xếp hạng; hơn 35.000 hiện vật, tư liệu được bảo quản tại Bảo tàng Sơn La. Mỗi năm, đơn vị nghiên cứu, sưu tầm thêm từ 200 đến 300 hiện vật, tư liệu phục vụ trưng bày.

Bảo tàng và Thư viện tỉnh Sơn La cũng chú trọng ứng dụng số hóa di sản vào công tác chuyên môn. đơn vị tiến hành kiểm kê đồng bộ, số hóa, chuẩn hóa tư liệu, hiện vật và đưa đến công chúng qua website hoặc mã QR-Code. Chi bộ đã chỉ đạo triển khai nhiều hoạt động quảng bá, giới thiệu về cuộc đời, sự nghiệp của Bác. Tại khuôn viên Bảo tàng tỉnh, trưng bày cố định chuyên đề “Bác Hồ với nhân dân các dân tộc Sơn La”, giới thiệu hiện vật, hình ảnh quý về tình cảm của Bác đối với đồng bào, cũng như tình cảm của đồng bào các dân tộc Sơn La dành cho Bác.

Trong 2 năm (2023 và 2024), Chi bộ đã triển khai mô hình “Giáo dục truyền thống lịch sử địa phương tại điểm Di tích quốc gia đặc biệt Nhà tù Sơn La” cho học sinh các trường tiểu học, THCS, THPT trên địa bàn tỉnh. Đồng thời, tổ chức 154 cuộc giáo dục truyền thông, thu hút trên 320.000 lượt học sinh, sinh viên và chiến sĩ các lực lượng vũ trang tham gia.

Bằng tinh thần trách nhiệm và tình yêu với nghề, Chi bộ Bảo tàng và Thư viện tỉnh đang từng ngày học và làm theo Bác bằng những việc làm cụ thể, thiết thực trong gìn giữ lịch sử, văn hóa và lan tỏa hình ảnh Bác Hồ – vị lãnh tụ vĩ đại đến với mỗi người dân, hun đúc tình yêu quê hương, đất nước từ những giá trị di sản bền vững.

]]>
Đầu tư cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi: Kích cầu phát triển toàn xã hội https://thammysacdep.com/dau-tu-cho-vung-dan-toc-thieu-so-va-mien-nui-kich-cau-phat-trien-toan-xa-hoi/ Sun, 27 Jul 2025 15:54:54 +0000 https://thammysacdep.com/dau-tu-cho-vung-dan-toc-thieu-so-va-mien-nui-kich-cau-phat-trien-toan-xa-hoi/

Trong những năm gần đây, các xã vùng sâu, vùng xa đã chứng kiến sự chuyển mình với hệ thống điện, đường, trường, trạm được xây dựng và nâng cấp đồng bộ. Những con đường đất từng là rào cản cho việc đi lại và giao thương của nhân dân đã được bê-tông hóa, nhựa hóa, giúp việc di chuyển và trao đổi hàng hóa trở nên thuận lợi hơn. Trường học và trạm y tế cũng được xây dựng khang trang, tạo điều kiện cho con em đồng bào được học tập đầy đủ và người dân được chăm sóc sức khỏe tốt hơn.

Việc đầu tư vào vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi không chỉ giúp kích cầu phát triển toàn xã hội mà còn giảm bớt khoảng cách giữa các hộ gia đình giàu và nghèo. Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả lâu dài, cần có sự đầu tư chung cho toàn vùng và đầu tư riêng cho từng đối tượng. Ông Điểu Điều, Trưởng ban Dân tộc Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Nai, cho rằng cần có sự đầu tư cho từng hộ gia đình để những hộ nghèo, cận nghèo có động lực vươn lên. Trước mắt, cần đầu tư con giống, nông cụ cho đồng bào. Về lâu dài, cần đầu tư nghề, đầu tư thay đổi tư duy, ý thức cho đồng bào để họ tự vươn lên.

Một cách tiếp cận mới trong việc xóa nghèo là hỗ trợ các hộ gia đình có động lực và khả năng vươn lên. Ông Điều cho rằng cách xóa nghèo hiện nay, chỉ đơn giản là “dân nghèo cái gì thì cho cái đó”, không phải là giải pháp bền vững. Thay vào đó, cần có các chương trình hỗ trợ phù hợp, giúp đồng bào phát triển kinh tế, nâng cao đời sống.

Lâm Nhanh, một cán bộ đoàn của xã Lộc Hưng, tỉnh Đồng Nai, đã tiên phong trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng để nâng cao giá trị và mở ra hướng đi mới cho địa phương. Nhờ được Quỹ hỗ trợ nông dân hỗ trợ thêm 50 triệu đồng, anh đã chủ động chuyển đổi vùng đất trồng lúa kém hiệu quả sang trồng dưa lưới. Hiện nay, anh đã hỗ trợ thêm 10 hộ dân khác trồng dưa lưới trên diện tích 10 ha.

Tại các xã biên giới như Tân Tiến, Thiện Hưng, Hưng Phước, trước đây hạ tầng y tế thiếu và yếu, nhưng nhờ được đầu tư các nguồn lực, trong đó có nguồn vốn của Chương trình phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi, đã tạo nên một hệ thống chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân ngày càng hiệu quả và chất lượng. Trạm y tế của xã Hưng Phước đã có đủ hạ tầng kỹ thuật và khối phụ trợ, cũng như đủ thuốc trong danh mục thuốc chữa bệnh chủ yếu sử dụng tại trạm y tế xã theo quy định hiện hành.

Khi hệ thống y tế được đầu tư đồng bộ, người dân vùng sâu, vùng xa có điều kiện tiếp cận các dịch vụ khám, chữa bệnh kịp thời, giảm bớt bệnh tật và nâng cao thể trạng và chất lượng cuộc sống. Qua đó, thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với vùng sâu, vùng xa, góp phần củng cố niềm tin của đồng bào đối với chính quyền.

Thông qua tín dụng ưu đãi, người dân có điều kiện đầu tư vào sản xuất, chăn nuôi, phát triển kinh tế hộ gia đình bền vững, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần. Chị Thị Geo, ở xã Đắk Nhau, năm 2022 được vay 50 triệu đồng từ nguồn vốn chính sách, đã mua một cặp bò giống và làm chuồng trại. Đến nay, đàn bò của chị đã phát triển lên năm con, tạo nguồn thu nhập ổn định và giúp gia đình chị chính thức thoát nghèo.

Những nguồn vốn chính sách của trung ương và địa phương như những cơn “mưa dầm” thấm sâu vào đời sống đồng bào vùng sâu, vùng xa, từng bước thay đổi cuộc sống của người dân.

]]>